Skip to main content

Phụ gia chống cháy cho nhựa – Wikipedia tiếng Việt





Hầu hết các loại nhựa sử dụng cả kĩ thuật lẫn dân dụng đều có tính bắt cháy cao do cấu trúc phân tử mạch Carbon của chúng. Vì vậy, để tăng cường khả năng chống cháy cho loại vật liệu này, cách tốt nhất là sử dụng phụ gia chống cháy do không mất thời gian và công sức vào nghiên cứu cơ bản để sáng tạo ra một loại vật liệu mới lại vừa tiết kiệm được chi phí sản xuất.
Theo thống kê ở Mĩ vào năm 1976, khoảng 11000 vụ cháy ti vi đã xảy ra. Đến năm 1992, con số này chỉ còn 1200 mặc dù số lượng ti vi sử dụng đã tăng lên rất nhiều so với gần 20 năm trước đó. Nguyên nhân của hiện tượng tích cực này là do các nhà sản xuất đã sử dụng các loại phụ gia chống cháy nhằm kết hợp với nhựa dùng cho tivi làm giảm tính bắt cháy của chúng.
Việc lựa chọn phụ gia chống cháy cũng là một vấn đề. Phụ gia có tương hợp tốt với nhựa hay không là một ví dụ. Trong nhiều trường hợp, phụ gia đưa vào nhựa chống cháy rất tốt nhưng lại làm giảm đi cơ tính của sản phẩm rất nhiều. Hoặc có phụ gia thì dễ bay hơi khó sử dụng, phụ gia khó bay hơi quá thì tính chống cháy lại không cao. Việc kết hợp một loại chất chống cháy vào trong nhựa đòi hỏi người sử dụng phải có kiến thức về hóa học cháy và hóa lý.
Việc thỏa mãn các yêu cầu thị trường của phụ gia chống cháy cũng quan trọng trong vấn đề tiêu thụ. Ở các thị trường khác nhau, ở những quốc gia khác nhau, với các tiêu chuẩn đo lường không giống nhau thì việc chất chống cháy có thỏa mãn được yêu cầu hay không là một vấn đề. Có chất chống cháy sử dụng được ở thị trường này nhưng không thể sử dụng ở nơi khác do không thỏa mãn được tiêu chuẩn an toàn sử dụng.
Một chất chống cháy lý tưởng phải thỏa mãn được rất nhiều những tiêu chuẩn khắt khe liên quan đến tính chất sử dụng: tính tương hợp với nhựa nền nghĩa là không làm giảm đi tính chất sản phẩm, bền ánh sáng, UV, không màu, hiệu quả ngay ở hàm lượng nhỏ, giá cả phải chăng, không gây ăn mòn máy móc, đặc biệt là phải không độc hại đối với sức khỏe của con người.



Sự cháy của polymer[sửa | sửa mã nguồn]


Polymer cháy được là do sự có mặt của các thành phần: nhiệt, nhiên liệu và ô xi. Nhiệt làm xuất hiện các khí dễ cháy (nhiên liệu) trên bề mặt polymer thông qua việc giảm cấp của polymer. Khi tỉ lệ ở pha khí giữa oxigen và các khí này đạt tới giá trị thích hợp, polymer sẽ bắt cháy.
Biểu đồ sự cháy của polymer có thể được mô tả thông qua vòng tròn delta enthalpy, trong đó ∆ H1 là nhiệt tỏa ra khi có sự tham gia của oxigen, ∆H2 là nhiệt phản hồi – tác nhân chính duy trì sự cháy của polymer.



Chống cháy cho polymer chính là việc can thiệp vào một hoặc vài giai đoạn của quá trình cháy như là: nhiệt, giảm cấp, bắt cháy, sự lan rộng của đám cháy, bốc khói,…
Do đó: Chất chống cháy phải có nhiệm vụ là ngăn cản và dập tắt quá trình cháy. Chúng có thể hoạt động hóa học hoặc vật lý trong pha khí (gas phase) hoặc pha rắn (condensed phase) thông qua các phản ứng hóa học phức tạp nhằm chấm dứt việc duy trì sự cháy.

Các cơ chế chống cháy[sửa | sửa mã nguồn]


Tạo lớp bảo vệ trên bề mặt pha rắn (intumescence layer)[sửa | sửa mã nguồn]


Cơ chế này liên quan tới việc hình thành một lớp bảo vệ bằng Carbon hay còn gọi là tạo lớp phấn trên bề mặt polymer. Lớp bảo vệ này có 2 tác dụng: ngăn cản sự tiếp xúc của oxi với bề mặt polymer; tạo thành một lớp cách nhiệt.
Lớp bảo vệ này được tạo thành từ 3 thành phần cơ bản:


  • Xúc tác

  • Tác nhân tạo phấn (charring agent)

  • Tác nhân tạo xốp (blowing agent)
    'Bảng: 3 thành phần cơ bản tạo nên lớp intumescence layer'










Catalyst

(Acid source)


Charring agents
Blowing agents

(Spumific)


Ammonium salts Phosphates, polyphosphatesPolyhydric compoundsAmines/amides

Sulfates
Halides

Starch
Dextrin
Sorbitol
Pentaerythritol, monomer, dimer, trimer
Phenol-formaldehyde resins
Methylol melamine
Urea
Urea-formaldehyde
resins
Dicyandiamide
Melamine
Polyamides
Phosphates of amine or amide
Others Charring
Products of reaction of urea or Guanidyl urea with phosphoric acids
Melamine phosphate
Product of reaction of ammonia with P2O5
Polymers (PUR, PA, …)
Organophosphorus compounds
Tricresyl phosphate


Alkyl phosphates
Haloalkyl phosphates


Dập tắt gốc tự do hoạt động trên pha khí[sửa | sửa mã nguồn]


Những polymer có gốc styrene khi gặp nhiệt sẽ nóng chảy, đề polymer hóa tạo ra những monomer, dimer, và trimer dễ bay hơi. Những polymer dạng này đòi hỏi phải có chất chống cháy hoạt động trên pha khí mạnh hơn là trên pha rắn.
Chất chống cháy hoạt động trên pha khí sẽ ngăn cản các hoạt động hóa học tạo ra sự cháy. Cụ thể, trong quá trình cháy, các phần polymer tương tác với oxi và các chất nhạy phản ứng tạo ra các gốc tự do của Oxi, hydroxy, và Hydro. Những phụ gia có chứa halogen và photpho có thể tác dụng với các gốc tự do này để tạo ra các chất ít hoạt động góp phần ngăn cản sự cháy.
Một số phản ứng tạo ra gốc tự do:
H* + O2 <--> O* + HO*
O* + H2 <--> H* + OH*
HO* + CO <--> CO2 + H*



https://sites.google.com/site/hatnhuataomau/phu-gia-chong-chay-cho-nhua






Comments

Popular posts from this blog

Claude Gillot - Wikipedia

Les Deux Carrosses bởi Claude Gillot, 1707 Claude Gillot (27 tháng 4 năm 1673 - 4 tháng 5 năm 1722) là một họa sĩ, nhà sản xuất và vẽ tranh minh họa người Pháp, được biết đến nhiều nhất Watteau và Lancret. Gillot sinh ra ở Langres. [1] Ông là một họa sĩ, thợ khắc, họa sĩ minh họa sách, công nhân kim loại, và nhà thiết kế cho nhà hát. Ông có Watteau là người học việc trong khoảng thời gian từ 1703 đến 1708. Các tác phẩm phong cảnh thần thoại thể thao của Gillot, với các tựa như Feast of Pan và Feast of Bacchus đã mở Học viện hội họa tại Paris cho ông vào năm 1715; và sau đó ông đã điều chỉnh nghệ thuật của mình theo thị hiếu thời thượng thời đó, và giới thiệu trang trí fêtes champêtres sau đó ông đã bị các học trò của mình vượt qua. Ông cũng được kết nối chặt chẽ với nhà hát opera và nhà hát như một nhà thiết kế cảnh quan và trang phục. Ông qua đời ở Paris, 49 tuổi. Các ấn phẩm đáng chú ý Tài liệu tham khảo và nguồn [ chỉnh sửa ] Tài liệu tham khảo Ngu...

Liên tục Troyon - Wikipedia

Constant Troyon (28 tháng 8 năm 1810 - 21 tháng 2 năm 1865) là một họa sĩ người Pháp của trường Barbizon. Trong thời gian đầu của sự nghiệp, ông đã vẽ phong cảnh. Chỉ là tương đối muộn trong cuộc đời, Troyon đã tìm thấy métier của mình như một họa sĩ của động vật, và đã được quốc tế công nhận. Những năm đầu [ chỉnh sửa ] Ông sinh ra ở Sèvres, gần Paris, nơi cha ông được kết nối với nhà máy sản xuất sứ nổi tiếng. Troyon bước vào các ateliers rất trẻ với tư cách là một người trang trí, và cho đến khi anh ta hai mươi tuổi, anh ta làm việc chăm chỉ với các chi tiết nhỏ của đồ trang trí bằng sứ; và loại công việc này anh ấy đã thành thạo đến mức phải mất nhiều năm trước khi anh ấy vượt qua những hạn chế của nó. Khi anh ta lên hai mươi mốt, anh ta đi du lịch khắp đất nước với tư cách là một nghệ sĩ, và vẽ tranh phong cảnh miễn là tài chính của anh ta kéo dài. Sau đó, khi bị ép tiền, anh kết bạn với nhà sản xuất Trung Quốc đầu tiên, anh gặp và làm việc đều đặn tại doanh nghiệp tr...

Hans Morgenthau - Wikipedia

Hans Joachim Morgenthau (17 tháng 2 năm 1904 - 19 tháng 7 năm 1980) là một trong những nhân vật chính của thế kỷ XX trong nghiên cứu về chính trị quốc tế. Các tác phẩm của Morgenthau thuộc về truyền thống của chủ nghĩa hiện thực trong lý thuyết quan hệ quốc tế, và ông thường được xem xét, cùng với George F. Kennan và Reinhold Niebuhr, một trong ba nhà hiện thực hàng đầu của Mỹ thời kỳ hậu Thế chiến II. Morgenthau đã có những đóng góp mang tính bước ngoặt cho lý thuyết quan hệ quốc tế và nghiên cứu luật pháp quốc tế. Chính trị giữa các quốc gia xuất bản lần đầu năm 1948, đã trải qua năm phiên bản trong suốt cuộc đời. Morgenthau cũng đã viết rộng rãi về chính trị quốc tế và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ cho các ấn phẩm lưu hành chung như Nhà lãnh đạo mới Bình luận Thế giới quan Tạp chí New York về sách, và Cộng hòa mới . Ông biết và trao đổi với nhiều nhà trí thức và nhà văn hàng đầu trong thời đại của mình, như Reinhold Niebuhr, [1] George F. Kennan, [2] Carl Schmitt [3] ...