Skip to main content

Mẹ Suốt – Wikipedia tiếng Việt


Mẹ Suốt, tên thật Nguyễn Thị Suốt (1908-1968), là một nữ Anh hùng Lao động trong Chiến tranh Việt Nam, người đã lái đò chở bộ đội, thương binh, đạn dược qua sông Nhật Lệ trong những năm 1964 - 1967.

Bà sinh năm 1908 tại thôn Trung Bính, xã Bảo Ninh, thị xã Đồng Hới, Quảng Bình. Bà sinh ra trong một gia đình ngư dân nghèo, thuở nhỏ đã phải đi ở đợ suốt 18 năm. Sau Cách mạng tháng 8, bà mới lấy chồng, làm nghề chèo đò kiếm sống. Bà sinh ra 3 người con, 2 gái, 1 trai.

Năm 1964, sau Sự kiện Vịnh Bắc Bộ, Mỹ bắt đầu đem quân đánh phá miền Bắc. Miền đất Quảng Bình là một trong những trọng điểm đánh phá của máy bay và hải quân Mỹ, với mục đích nhằm ngăn chặn việc chi viện của miền Bắc cho lực lượng cách mạng miền Nam. Lúc đó, bà đã 58 tuổi nhưng vẫn xung phong nhận công việc chèo đò chở cán bộ, thương binh và vũ khí qua sông, giữ vững thông tin liên lạc giữa hai bờ. Kể từ đó, trong suốt những năm 1964 - 1966, bà vẫn giữ vững nhiệm vụ của mình, đã chèo hàng trăm lượt ngay cả những lúc máy bay Mỹ ném bom oanh tạc ác liệt. Bà được những người cán bộ và bà con gọi với tên quen thuộc Mẹ Suốt. Tổng cộng ước tính mỗi năm mẹ Suốt qua lại đến 1400 chuyến.[1]

Trong Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc năm 1966 tổ chức ở miền Bắc, mẹ Suốt được mời tham dự. Ngày 1 tháng 1 năm 1967, bà được phong tặng danh hiệu Anh hùng ngành Giao thông vận tải trong chống Mỹ cứu nước.

Cuối năm 1968, khi chiến tranh trở nên ác liệt hơn, bà ngừng công việc chèo đò, di chuyển lên vùng cao hơn. Ngày 21 tháng 8 năm 1968, trong một lần đi ở bến đò Bảo Ninh sơ tán ở phía nam cách bến đò cũ 3 km, mẹ Nguyễn Thị Suốt mất trong một trận bom bi oanh tạc Mỹ[2]. Sau đó bà được Nhà nước công nhận liệt sĩ.

Năm 1980, Ủy ban Nhân dân thị xã Đồng Hới đã cho dựng bia đài Mẹ Suốt nằm giữa trung tâm bến đò [3]. Hiện nay ngay gần cầu Nhật Lệ là con đường Mẹ Suốt, là nơi đặt bức tượng mẹ Suốt. Bức tượng được khánh thành năm 2003, tác giả là nhà điêu khắc Phan Đình Tiến.



Tháng 11 năm 1965, nhà thơ Tố Hữu, lúc đó là Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đảng, đến Đồng Hới, Quảng Bình. Sau khi nói chuyện với mẹ Suốt (4 tháng 11), nhà thơ đã sáng tác bài thơ nổi tiếng mang tên Mẹ Suốt. Ngay sau khi ra đời, bài thơ được đăng trên Báo Nhân dân và đã trở nên quen thuộc với công chúng, đặc biệt với hình ảnh bà mẹ Nguyễn Thị Suốt:



Một tay lái chiếc đò ngang
Bến sông Nhật Lệ, quân sang đêm ngày
Sợ chi sóng gió tàu bay
Tây kia mình đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua!
Kể chi tuổi tác già nua
Chống chèo xin cứ thi đua đến cùng!
Ngẩng đầu, mái tóc mẹ rung
Gió lay như sóng biển tung, trắng bờ...
Gan chi gan rứa, mẹ nờ?
Mẹ rằng: Cứu nước mình chờ chi ai?
Chẳng bằng con gái, con trai
Sáu mươi còn một chút tài đò đưa
Tàu bay hắn bắn sớm trưa
Thì tui cứ việc sớm trưa đưa đò...[4]



Xuân Diệu có lần bình hai câu thơ "Ngẩng đầu mái tóc... biển tung, trắng bờ", cho đó là hình ảnh đẹp nhất của người phụ nữ Việt Nam anh hùng trong thơ ca xưa cũng như nay. Bài thơ còn trở nên quen thuộc qua giọng ngâm của cố nghệ sĩ Châu Loan, trong đó nghệ sĩ Châu Loan đã thành công trong việc sử dụng làn điệu ca Huế trong ngâm thơ.[5]










Comments

Popular posts from this blog

Claude Gillot - Wikipedia

Les Deux Carrosses bởi Claude Gillot, 1707 Claude Gillot (27 tháng 4 năm 1673 - 4 tháng 5 năm 1722) là một họa sĩ, nhà sản xuất và vẽ tranh minh họa người Pháp, được biết đến nhiều nhất Watteau và Lancret. Gillot sinh ra ở Langres. [1] Ông là một họa sĩ, thợ khắc, họa sĩ minh họa sách, công nhân kim loại, và nhà thiết kế cho nhà hát. Ông có Watteau là người học việc trong khoảng thời gian từ 1703 đến 1708. Các tác phẩm phong cảnh thần thoại thể thao của Gillot, với các tựa như Feast of Pan và Feast of Bacchus đã mở Học viện hội họa tại Paris cho ông vào năm 1715; và sau đó ông đã điều chỉnh nghệ thuật của mình theo thị hiếu thời thượng thời đó, và giới thiệu trang trí fêtes champêtres sau đó ông đã bị các học trò của mình vượt qua. Ông cũng được kết nối chặt chẽ với nhà hát opera và nhà hát như một nhà thiết kế cảnh quan và trang phục. Ông qua đời ở Paris, 49 tuổi. Các ấn phẩm đáng chú ý Tài liệu tham khảo và nguồn [ chỉnh sửa ] Tài liệu tham khảo Ngu...

Liên tục Troyon - Wikipedia

Constant Troyon (28 tháng 8 năm 1810 - 21 tháng 2 năm 1865) là một họa sĩ người Pháp của trường Barbizon. Trong thời gian đầu của sự nghiệp, ông đã vẽ phong cảnh. Chỉ là tương đối muộn trong cuộc đời, Troyon đã tìm thấy métier của mình như một họa sĩ của động vật, và đã được quốc tế công nhận. Những năm đầu [ chỉnh sửa ] Ông sinh ra ở Sèvres, gần Paris, nơi cha ông được kết nối với nhà máy sản xuất sứ nổi tiếng. Troyon bước vào các ateliers rất trẻ với tư cách là một người trang trí, và cho đến khi anh ta hai mươi tuổi, anh ta làm việc chăm chỉ với các chi tiết nhỏ của đồ trang trí bằng sứ; và loại công việc này anh ấy đã thành thạo đến mức phải mất nhiều năm trước khi anh ấy vượt qua những hạn chế của nó. Khi anh ta lên hai mươi mốt, anh ta đi du lịch khắp đất nước với tư cách là một nghệ sĩ, và vẽ tranh phong cảnh miễn là tài chính của anh ta kéo dài. Sau đó, khi bị ép tiền, anh kết bạn với nhà sản xuất Trung Quốc đầu tiên, anh gặp và làm việc đều đặn tại doanh nghiệp tr...

Hans Morgenthau - Wikipedia

Hans Joachim Morgenthau (17 tháng 2 năm 1904 - 19 tháng 7 năm 1980) là một trong những nhân vật chính của thế kỷ XX trong nghiên cứu về chính trị quốc tế. Các tác phẩm của Morgenthau thuộc về truyền thống của chủ nghĩa hiện thực trong lý thuyết quan hệ quốc tế, và ông thường được xem xét, cùng với George F. Kennan và Reinhold Niebuhr, một trong ba nhà hiện thực hàng đầu của Mỹ thời kỳ hậu Thế chiến II. Morgenthau đã có những đóng góp mang tính bước ngoặt cho lý thuyết quan hệ quốc tế và nghiên cứu luật pháp quốc tế. Chính trị giữa các quốc gia xuất bản lần đầu năm 1948, đã trải qua năm phiên bản trong suốt cuộc đời. Morgenthau cũng đã viết rộng rãi về chính trị quốc tế và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ cho các ấn phẩm lưu hành chung như Nhà lãnh đạo mới Bình luận Thế giới quan Tạp chí New York về sách, và Cộng hòa mới . Ông biết và trao đổi với nhiều nhà trí thức và nhà văn hàng đầu trong thời đại của mình, như Reinhold Niebuhr, [1] George F. Kennan, [2] Carl Schmitt [3] ...