Skip to main content

Ordovic muộn – Wikipedia tiếng Việt


Ordovic muộn hay Ordovic thượng là tên gọi của một thống hay thế địa chất. Nó là thống cuối cùng trong địa thời học của kỷ Ordovic trên Trái Đất. Thống này kéo dài từ khoảng 460,9±1,6 tới 443,7±1,5 triệu năm trước (Ma). Thống hay thế Ordovic muộn nằm ngay trên tầng Darriwil của thống/thế Ordovic giữa cùng kỷ và nằm ngay dưới tầng Rhuddan của thống Llandovery trong kỷ Silur.





Hiện tại, vào năm 2008, thống Ordovic muộn được ICS chia thành 3 tầng từ trẻ nhất tới cổ nhất như sau:



Các GSSP đã xác định trong thống Ordovic muộn là:


  • Tầng Hirnant: 0,39 m phía dưới đáy tầng Quán Âm Kiều (观音桥), phẫu diện Vương Gia Loan Bắc (王家湾北), thôn Vương Gia Loan (王家湾), trấn Phân Hương (分乡), khu Di Lăng (夷陵), 42 km về phía bắc địa cấp thị Nghi Xương, tây tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Tọa độ: 30°59′2,68″B 111°25′10,76″Đ / 30,98333°B 111,41667°Đ / 30.98333; 111.41667.

  • Tầng Katy: 4 m trên đáy của Bigfort Chert, phẫu diện Black Knob Ridge, 5 km đông bắc thị trấn Atoka (Nam Oklahoma, Hoa Kỳ), gần hồ Katy. Tọa độ: 34°25.829′B 96°4.473′T / 34,430483°B 96,07455°T / 34.430483; -96.074550.

  • Tầng Sandby: 4 m dưới phosphorit trong vỉa trồi E14a, Fågelsång, Scane, miền nam Thụy Điển. Tọa độ 55°42′49,3″B 13°19′31,8″Đ / 55,7°B 13,31667°Đ / 55.70000; 13.31667.

Giới hạn dưới của tầng Sandby (cũng là giới hạn dưới của thống) là sự xuất hiện lần đầu tiên của loài bút thạch có danh pháp Nemagraptus gracilis. Giới hạn trên của tầng Hirnant với tầng Rhuddan là trước sự xuất hiện lần đầu tiên của loài bút thạch có danh pháp Akidograptus ascensus.



Vào thời gian này, Tây Âu và Trung Âu cùng Bắc Mỹ va chạm với nhau để tạo ra Laurentia, trong khi các sông băng hình thành tại Gondwana, khi đó đang ở vị trí cận kề Nam cực. Điều này gây ra sự sụt giảm nhiệt độ toàn cầu, tạo ra các điều kiện trong một "nhà băng giá".

Trong phần lớn thời gian của thống này sự sống vẫn tiếp tục thịnh vượng, nhưng vào gần cuối thống này đã xảy ra sự kiện tuyệt chủng hàng loạt có ảnh hưởng nghiêm trọng tới các dạng phù du như động vật răng nón (Conodonta), bút thạch (Graptolithina) và một vài nhóm bọ ba thùy như Agnostida và Pytchopariida, làm chúng bị tuyệt chủng hoàn toàn, và tới Asaphida với sự sụt giảm lớn. Các loài động vật chân mang (Brachiopoda), động vật hình rêu (Bryozoa) và động vật da gai (Echinodermata) cũng chịu ảnh hưởng nặng. Bộ Endocerida trong lớp động vật chân đầu (Cephalopoda) chết gần như toàn bộ, ngoại trừ có lẽ chỉ là các dạng hiếm trong kỷ Silur. Sự kiện tuyệt chủng kỷ Ordovic-kỷ Silur có thể bị gây ra bởi thời kỳ băng hà diễn ra vào cuối kỷ Ordovic do giai đoạn cuối thống Ordovic muộn là một trong thời kỳ lạnh giá nhất trong 600 triệu năm gần đây của lịch sử Trái Đất.



  • Felix Gradstein, Jim Ogg và Alan Smith: A Geologic timescale. Nhà in Đại học Cambridge, 2004 ISBN 9780521786737.

  • S. M. Bergström, S. C. Finney, Xu Chen, C. Pålsson, Zhi-lao Wang và Y. Grahn: A proposed global boundary stratotype for the base of the Upper Series of the Ordovician System: The Fågelsång section, Scania, southern Sweden. Episodes. 23(3): 102-109, Bắc Kinh, 2000 ISSN 0705-3797.

  • Xu Chen, Jiayu Rong, Junxuan Fan, Renbin Zhan, Charles E. Mitchell, David A.T. Harper, Michael J. Melchin, Ping'an Peng, Stan C. Finney và Xiaofeng Wang: The Global Boundary Stratotype Section and Point (GSSP) for the base of the Hirnantian Stage (the uppermost of the Ordovician System). Episodes, 29(3): 183-196, Bắc Kinh, 2006 ISSN 0705-3797 PDF.

  • Stig M. Bergström, Stanley C. Finney, Chen Xu, Daniel Goldman và Stephen A. Leslie: Three new Ordovician global stage names. Lethaia, 39: 287-288, Oslo, 2006 ISSN 0024-1164.

  • John Bevis Beeston Bancroft: Correlation tables of the stages Costonian-Onnian in England and Wales. 4 S., privat publiziert, Blakeney, Gloucestershire 1933.

  • J. T. Temple: Upper Ordovician brachiopods from Poland and Britain. Acta Palaeontologica Polonica, 10: 379-450, Warszawa, 1965 ISSN 0567-7920.



Comments

Popular posts from this blog

Claude Gillot - Wikipedia

Les Deux Carrosses bởi Claude Gillot, 1707 Claude Gillot (27 tháng 4 năm 1673 - 4 tháng 5 năm 1722) là một họa sĩ, nhà sản xuất và vẽ tranh minh họa người Pháp, được biết đến nhiều nhất Watteau và Lancret. Gillot sinh ra ở Langres. [1] Ông là một họa sĩ, thợ khắc, họa sĩ minh họa sách, công nhân kim loại, và nhà thiết kế cho nhà hát. Ông có Watteau là người học việc trong khoảng thời gian từ 1703 đến 1708. Các tác phẩm phong cảnh thần thoại thể thao của Gillot, với các tựa như Feast of Pan và Feast of Bacchus đã mở Học viện hội họa tại Paris cho ông vào năm 1715; và sau đó ông đã điều chỉnh nghệ thuật của mình theo thị hiếu thời thượng thời đó, và giới thiệu trang trí fêtes champêtres sau đó ông đã bị các học trò của mình vượt qua. Ông cũng được kết nối chặt chẽ với nhà hát opera và nhà hát như một nhà thiết kế cảnh quan và trang phục. Ông qua đời ở Paris, 49 tuổi. Các ấn phẩm đáng chú ý Tài liệu tham khảo và nguồn [ chỉnh sửa ] Tài liệu tham khảo Ngu...

Liên tục Troyon - Wikipedia

Constant Troyon (28 tháng 8 năm 1810 - 21 tháng 2 năm 1865) là một họa sĩ người Pháp của trường Barbizon. Trong thời gian đầu của sự nghiệp, ông đã vẽ phong cảnh. Chỉ là tương đối muộn trong cuộc đời, Troyon đã tìm thấy métier của mình như một họa sĩ của động vật, và đã được quốc tế công nhận. Những năm đầu [ chỉnh sửa ] Ông sinh ra ở Sèvres, gần Paris, nơi cha ông được kết nối với nhà máy sản xuất sứ nổi tiếng. Troyon bước vào các ateliers rất trẻ với tư cách là một người trang trí, và cho đến khi anh ta hai mươi tuổi, anh ta làm việc chăm chỉ với các chi tiết nhỏ của đồ trang trí bằng sứ; và loại công việc này anh ấy đã thành thạo đến mức phải mất nhiều năm trước khi anh ấy vượt qua những hạn chế của nó. Khi anh ta lên hai mươi mốt, anh ta đi du lịch khắp đất nước với tư cách là một nghệ sĩ, và vẽ tranh phong cảnh miễn là tài chính của anh ta kéo dài. Sau đó, khi bị ép tiền, anh kết bạn với nhà sản xuất Trung Quốc đầu tiên, anh gặp và làm việc đều đặn tại doanh nghiệp tr...

Hans Morgenthau - Wikipedia

Hans Joachim Morgenthau (17 tháng 2 năm 1904 - 19 tháng 7 năm 1980) là một trong những nhân vật chính của thế kỷ XX trong nghiên cứu về chính trị quốc tế. Các tác phẩm của Morgenthau thuộc về truyền thống của chủ nghĩa hiện thực trong lý thuyết quan hệ quốc tế, và ông thường được xem xét, cùng với George F. Kennan và Reinhold Niebuhr, một trong ba nhà hiện thực hàng đầu của Mỹ thời kỳ hậu Thế chiến II. Morgenthau đã có những đóng góp mang tính bước ngoặt cho lý thuyết quan hệ quốc tế và nghiên cứu luật pháp quốc tế. Chính trị giữa các quốc gia xuất bản lần đầu năm 1948, đã trải qua năm phiên bản trong suốt cuộc đời. Morgenthau cũng đã viết rộng rãi về chính trị quốc tế và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ cho các ấn phẩm lưu hành chung như Nhà lãnh đạo mới Bình luận Thế giới quan Tạp chí New York về sách, và Cộng hòa mới . Ông biết và trao đổi với nhiều nhà trí thức và nhà văn hàng đầu trong thời đại của mình, như Reinhold Niebuhr, [1] George F. Kennan, [2] Carl Schmitt [3] ...